![]() |
| Lễ cấp sắc của người Tày |
Sách sử của người Hoa Hạ đã sớm ghi nhận về cộng đồng tộc Việt dưới nhiều tên gọi khác nhau, nhưng tới thời nhà Tần, khái niệm Bách Việt đã được sử dụng để chỉ cộng đồng tộc Việt, khái niệm này đã có những ảnh hưởng nhất định trong sự nhìn nhận về cộng đồng này, như có một số quan điểm cho rằng “Bách Việt có nghĩa là 100 bộ tộc Việt”, “Bách Việt bao gồm nhiều dân tộc không có sự liên hệ với nhau”, hay “Bách Việt là một khái niệm được người Hoa Hạ sử dụng để chỉ chung những sắc dân phi Hán ở phía Nam địa bàn sinh sống của họ”.
Các phương tiện di truyền, khảo cổ học là những công cụ khoa học có độ chính xác cao, là những cơ sở đáng tin cậy nhất để từ đó chúng ta có thể tìm hiểu về nguồn gốc và sự phát triển của cộng đồng tộc Việt, đồng thời cũng giúp chúng ta xác định được chính xác nguồn gốc của dân tộc Việt và vị trí của họ trong cộng đồng này. Những dữ liệu mà di truyền và khảo cổ học đem lại đã thể hiện một diện mạo khác với những gì mà sử sách Trung Hoa đã phác họa về người Việt và cộng đồng tộc Việt, và cũng khác với những quan niệm với sự suy luận về nguồn gốc tộc Việt thông qua khái niệm Bách Việt. Thay vì họ là một cộng đồng rời rạc, không liên quan tới nhau, thì cộng đồng tộc Việt có nguồn gốc xuất phát từ một tiến trình phát triển văn minh lâu dài trong vùng Đông Á, trong quá trình phát triển đó, cộng đồng tộc Việt đã sớm hình thành ý thức dân tộc, ý thức văn hoá thống nhất cũng như có sự gắn bó và liên hệ với nhau chặt chẽ trong quá trình tồn tại. Điều kiện khách quan của lịch sử đã khiến cộng đồng tộc Việt dần tan rã thành nhiều quốc gia và nhiều dân tộc như hiện trạng ngày nay.
Văn hóa tộc Việt có cốt lõi là các văn hóa thờ vật Tổ và thờ Trời, nhưng bên cạnh đó, tính thống nhất của văn hóa tộc Việt còn được thể hiện trên nhiều nét văn hóa tinh thần tạo nên sự đặc trưng của nền văn hóa tộc Việt. Những dấu ấn của chúng còn thấy được trong khắp các các dân tộc có nguồn gốc từ cộng đồng tộc Việt tại vùng nam Đông Á, Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo.
Theo các kết quả của nghiên cứu văn hóa học, thì nền văn hóa tộc Việt xưa được nhận diện thông qua hàng loạt các dấu hiệu quan trọng trong dân tộc học, khảo cổ học như:
Trong văn hóa tinh thần: huyền thoại mang nét lưỡng hợp, nguyên lý Mẹ, thờ tổ tiên, tín ngưỡng đa thần, dùng thuyền rồng tế bái thủy thần, dùng kê bốc, xà bốc..;
Trong văn hóa tổ chức xã hội: tổ chức đời sống theo thôn làng, liên làng rồi lên nhà nước, làm nông nghiệp lúa nước, coi trọng vai trò phụ nữ..;
Trong văn hóa vật chất: cắt tóc xăm mình, búi tóc, ở nhà sàn, thức ăn thiên về thủy sản, phụ nữ mặc váy, nhuộm răng đen, thạo dùng thuyền và giỏi đi biển, chế tác đồ sứ mang hoa văn kỷ hà (geometric pottery, 几何 印纹陶), sử dụng bôn có nấc (rìu có mấu, stepped adze, 有段石锛) và bôn có tay cầm (rìu có vai, shouldered adze, 有肩石锛), sính trân châu (vùng Hợp Phố – Lôi Châu ở Lĩnh Nam, khác với truyền thống sính kim ngọc phương Bắc), tả nhậm… [20]
Tác giả Joseph Needham, trong tác phẩm Science and Civilization in China, đã tóm lược 25 đặc điểm đặc trưng cơ bản nhất của văn hóa tộc Việt [25]:
1 – Văn hóa biển và sông nước
2 – Kỹ thuật đóng tầu dài
3 – Đặc điểm nhà làng để cho dân tụ tập sinh hoạt
4 – Tục đua thuyền
5 – Huyền thoại con rồng
6 – Thờ phụng loài rắn
7 – Tục linh thiêng hóa ngọn núi
8 – Đặc thù về giống chó
9 – Văn minh trống đồng
10 – Thuật dùng nỏ bắn bằng tên
11 – Phép làm quần áo bằng vỏ cây
12 – Tục xâm mình
13 – Đốt rừng làm rẫy
14 – Hội về mùa xuân và mùa thu cho trai gái vui chơi để tự do lựa vợ kén chồng
15 – Văn minh trồng lúa nước
16 – Thuật đào mương dẫn nước
17 – Thuật làm nương rẫy
18 – Phép thuần hóa trâu để cầy
19 – Tục thờ cúng ông bà
20 – Tục giết heo để cúng bái
21 – Tục cầu tự
22 – Thuật làm khí giới có chất độc
23 – Thuật trồng cây tre và sử dụng dụng cụ bằng tre
24 – Kỹ thuật đúc sắt
25- Kỹ thuật làm sơn mài
Jeffrey Barlow cũng nhắc đến ý kiến của các học giả Trung Hoa hiện đại nói về đặc trưng của văn hóa tộc Việt. Yu Tianjin và đồng nghiệp nêu 9 đặc trưng của văn hóa tộc Việt là:
1 – Tục cắt tóc ngắn và xâm mình
2 – Kỹ thuật làm nhà sàn
3 – Tục mặc quần ngắn hay váy ngắn, đội khăn
4 – Sử dụng trai, sò và các động vật lưỡng tính (vừa ở trên cạn vừa ở dưới nước) làm thực phẩm chính
5 – Nhổ răng (?)
6 – Truyền thống đàn ông tham dự vào tiến trình sinh nở và săn sóc hài nhi để đàn bà được sớm ra làm đồng
7- Đúc trống đồng và sử dụng trống trong những dịp cúng tế
8 – Tục bói bằng xương, đặc biệt xương gà
9 – Tín ngưỡng vật tổ, đặc biệt đối với chim, rắn
Chen Guoqiang và đồng nghiệp thêm vào bảng trên 4 đặc trưng văn hóa sau:
1 – Tục mai táng theo thế bó gối
2 – Chuyên sử dụng thuyền bè và giỏi hải chiến
3 – Sản xuất gốm và sứ theo dạng hình học
4 – Có kỹ thuật dệt vải phát triển [26]
Đặc điểm của văn hóa tộc Việt xuất hiện trong toàn vùng có sự phân bố của cư dân tộc Việt. Người Hán Hoa Nam ngày nay mặc dù đã bị đồng hóa, ý thức mình là người Hán, nhưng đặc điểm văn hóa của họ vẫn rất đậm nét dấu ấn của văn hóa tộc Việt, có sự khác biệt lớn so với văn hóa của người Hán Hoa Bắc. Những đặc điểm chung của nền văn hóa tộc Việt vẫn thể hiện ở văn hóa của dân tộc Việt cũng như các dân tộc anh em của người Việt tại vùng nam Đông Á và miền Bắc Việt Nam.
Văn hóa tộc Việt cổ được giới hạn trong vùng Nam Dương Tử tới miền Bắc Việt Nam, nhưng vùng ảnh hưởng của nó thì lại rộng hơn thế, nguyên nhân xuất phát từ sự di cư của các cư dân tộc Việt trong nhiều giai đoạn khác nhau tới vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Đặc trưng văn hóa tộc Việt có thể nhận thấy ở cả các dân tộc tại Đông Nam Á lục địa, và các dân tộc thuộc hệ ngữ Nam Đảo.
Như học giả Andréas Lommel trong tác phẩm “Tiền sử” đã ghi nhận như sau: “Tất cả miền đất mênh mông từ Thái Bình Dương trở lên đến Hoa Nam Trung Quốc đều có cùng một nền văn hóa. Đảo Bornéo ở Nam Dương (Indonesia) cũng có cùng nghệ thuật như miền sông Hoài thuộc Giang Tô miền Nam nước Ngô thời Xuân Thu Chiến Quốc. Đặc tính văn hóa gắn liền với môi trường sinh sống của thực vật và động vật từ trầu cau, cây dâu đến heo, gà, công. Các phong tục tập quán từ nhuộm răng ăn trầu, xâm mình, cà răng đến lễ hội mừng nước, đua thuyền, vai trò quan trọng của trống đồng và cồng chiêng trong các lễ hội dân gian. Đó là khu vực văn hóa Trống đồng của cộng đồng Bách Việt từ Nam Trung Quốc, Đài Loan, Hải Nam tới Đông Dương gồm Việt, Miên, Lào, Thái Lan xuống tới bán đảo Mallacca, Mã Lai (Malaysia), Nam Dương (Indonesia), Phi Luật Tân (Philippine), Guinée, quần đảo Micronesia và Pâques”. [26a]
Những đặc trưng chung của văn hóa tộc Việt, cũng như sự tương đồng của văn hóa tộc Việt với các dân tộc tại vùng Nam Đảo đã thể hiện tính thống nhất cũng như sức sống mạnh mẽ của nền văn hóa Việt cổ.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét