
Nhiều tư liệu khẳng định tộc Việt từng biết uống trà trước tộc Hán ít nhất cũng hàng nhiều trăm năm, thậm chí hàng thiên niên kỷ. Sách Kinh Lễ hay Lễ Ký của bậc thánh nhân, Đức Khổng Tử (551-479 TCN) san định không hề thấy nói đến trà; Kinh Thi cũng do Ngài san định là một tác phẩm ghi chép lại các bài ca dao trong dân gian không hề có một chữ trà hay chữ đồ[1]. Lại nữa, chính Khổng Tử đã từng dạy học trò:
“Dân Bách Việt chuyên làm ruộng lúa mà ăn, không như chúng ta trồng kê và lúa mì. Họ uống nước nấu bằng thứ lá cây lấy trong rừng gọi là trà.”
Từ góc độ cổ tích và truyền thuyết làm bằng chứng cho nguồn gốc xuất xứ về trà, hẳn nhiều người ngỡ ngàng khi biết rằng trà đã xuất hiện từ thời Hùng Vương cùng với bánh đất.
Dấu vết trà Việt ẩn hiện trong truyền thuyết Trương Chi – Mỵ Nương, một mối tình lãng mạn từ thời cổ sử Việt. Diễn ra trong bối cảnh thời đại các vua Hùng (2879-257 TCN)[6] , câu chuyện tình buồn giữa chàng lái đò trẻ có giọng hát quyến rũ và tiếng sáo mê hoặc lòng người đã làm rung động trái tim nàng Mỵ Nương (Mỵ Nương là cách gọi con gái vua Hùng). Tiếc thay diện mạo xấu xí của Trương Chi làm nàng thất vọng khiến mối tình tan vỡ bất thành. Xao xuyến trước sắc đẹp chim sa cá lặn của Mỵ Nương, Trương Chi quá nặng lòng đành ôm mối sầu tương tư mà chết và hóa thân thành khối ngọc. Người thợ tạc đá đem khối ngọc đó tạc thành một chén uống chè mang dân cho vua Hùng. Truyền ngôn kể rằng mỗi khi nâng chén nước chè lung linh, Mỵ Nương lại thấy thấp thoáng bóng dáng con đò bơi qua bơi lại, cùng tiếng sáo Trương Chi du dương trầm bổng ngày nào bỗng lại ngân nga… Xót thương cho mối tình sầu thảm, Mỵ Nương ân hận ứa lệ, nước mắt nàng rỏ xuống hòa trong chén nước chè và chén chè bỗng vỡ tan như thể đã hóa giải được mối sầu tương tư của Trương Chi! Không ai biết truyền thuyết này có tự bao giờ và tại sao lại là nàng Mỵ Nương từ thời mở nước Văn Lang của người Việt chứ không phải ai khác!
Nếu Trương Chi-Mỵ Nương là loại truyền thuyết phi vật thể, chúng ta lại có truyền thuyết khác mà vật chứng của chúng là những địa danh lưu lại từ thời đại Hùng Vương còn mãi với thời gian. Chuyện kể rằng vào đời Hùng Duệ Vương, một bà quý phi của vua Hùng đã về làng Văn Luông (nay là Văn Phú), vùng đất tổ Phú Thọ dạy dân trồng chè, trồng bông sinh sống. Để ghi nhớ công nghiệp khai sáng ấy của bà, vùng đất trồng chè, trồng bông năm xưa, dân cư tự về sinh sống và đã tạo dựng nên: xóm Bãi Chè, xóm Bông còn tồn tại mãi tới ngày nay.
Những giai thoại nhạo báng trà được chép trong sách Thế Thuyết tân ngữ dưới thời Tấn Khang Đế (322-344) lại là một chứng cớ sinh động cho thấy trà chưa lan tỏa và được chấp nhận rộng rãi ở Trung Hoa trước đời Đường. Chuyện kể rằng:
“… Nhiệm Thiện, danh sĩ phương Nam (vùng đất Bách Việt) vượt sông đến thành Thạch Đầu xướng họa thơ văn, luận đàm đạo lý với các sĩ phu phương Bắc đến khô cả cổ mà chẳng có gì uống. Với thói quen uống trà, ông buột miệng hỏi: chẳng có trà lá gì sao? Nhóm sĩ phu phương Bắc cười ồ chế giễu và cũng từ đó người phương Bắc gọi người phương Nam (gốc Bách Việt) là loại người thô lậu vì cái thói khoái uống trà.”
Thời Nam-Bắc triều (420-581), sử chép sự kiện khi vua Nam Tề chạy sang nước Ngụy, theo thói quen hàng ngày pha trà uống, lại bị Bành Thành Vương dè bỉu: “Khanh không thích vị bát trân của Vương hầu lại đi thích chén trà xanh.”7. Xuyên suốt các tư liệu xưa cho thấy, ít nhất cho tới giữa thiên niên kỷ thứ I, trà vẫn bị dè bỉu ở Trung Hoa, coi là thứ nước uống thấp kém, quái lạ của người phương Nam. Họ thường xuyên miệt thị thứ nước uống này!
Trong Trà Kinh, một tác phẩm kinh điển về trà, Lục Vũ từng khẳng định: “Trà giống cây quý của phương Nam vậy.”[8]. Ông còn viết: “Người đầu tiên phát hiện ra trà chính là Thần Nông”. Chớ trêu thay, Thần Nông lại chính là Thủy tổ của người Việt, chủ nhân nền văn minh lúa nước luôn đồng hành cùng trà. Dấu vết khẳng định Thần Nông là tổ tiên của người Việt nằm ngay trong tên gọi Shen Nung (Thần Nông), một cách gọi theo đúng cấu trúc tiếng Việt (bởi theo tiếng Hán phải là Nông Thần – Nung Shen mới chính xác).[9]
Triết lý và thuộc tính Trà Việt:
Cái lý thú và là bản sắc riêng của văn hóa Trà Việt chính ở chỗ: bên cạnh dòng Trà Dân gian lại có một dòng Trà Cung đình, ban đầu chỉ dành riêng cho Vua chúa và tầng lớp thượng lưu quyền quý, cành vàng lá ngọc nhưng sau đã lan tỏa ra toàn xã hội. Âu đó cũng chính là nét đặc trưng rất riêng của văn hóa Trà Việt. Tuy nhiên phải chờ đến nửa sau của thế kỷ 18, dòng Trà Cung đình Việt mới được chỉ mặt, đặt tên, hàm chứa một triết lý uyên thâm mà các dòng văn hóa trà khác không khỏi ghen tỵ.
Từ thế kỷ XVIII trở về sau, dòng Trà Cung đình Việt thanh cao và triết lý Trà Nô do Chúa Tĩnh Vương Trịnh Sâm (1767-1782) khởi xướng. Một triết lý bình dị mà cao siêu, vừa giản đơn lại rất mực uyên thâm. Nó đánh dấu son và tạo dựng nét xuất thần độc đáo, đậm bản sắc riêng của dòng Trà Cung đình Việt nói riêng và nền văn minh Trà Việt nói chung. Ở ngôi vị chí tôn, trên tất thảy muôn người, Nhà Chúa phát hiện ra một “chân lý”, nghe qua thật mộc mạc: Muốn thưởng thức được vị ngon của trà – hãy làm Nô bộc cho Trà! Và triết lý Trà Nô đã ra đời.
Thế kỷ 19, trà Việt được trà sĩ sành sỏi Cao Bá Quát (1809-1855), tên tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, bổ sung thêm Triết lý-Trà Mộc. Tài thơ của ông nổi danh khắp nơi, được giới sĩ phu đương thời tôn vinh là Thánh Quát. Ông còn lưu dấu vào di sản Trà ca của thần trà Lưu Đồng Trung Hoa năm xưa. Cao Chu Thần tôn vinh cách thưởng thức trà với vị hương mộc mạc nguyên vẹn không ướp hoa mới thưởng thức hết cái vị đích thực của trà:
Uống chè có ướp hoa
Biến mất hương chè rồi
Sáng sớm múc nước giếng
Lửa nhóm nắm than rời
Không khói, cũng không bụi
Rửa tay khề khà ngồi…
Bài Tiểu kê uống trà của Thánh Quát ẩn chứa một triết lý riêng về kiểu thức ẩm trà mộc không hương và cũng là một trong những chính kiến ít ỏi mang tính hàn lâm cao siêu, uyên bác còn lại trong Trà kinh Việt.
Trà càng lan tỏa sâu rộng vào nếp sống Việt và dong Trà Cung đình Việt vốn chỉ ở chốn cung vàng điện ngọc đã dần được bình dân hóa vượt ra khỏi mọi nghi thức khuôn phép, len lỏi khắp chốn cùng nơi. Trà được khẳng định như một thuộc tính của phái mạnh:
Một trà một rượu một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta…
(Trần Tế Xương)
Và là mốt thời thượng của đấng nam nhi đương thời:
Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống trà Mạn Hảo ngâm Nôm Thúy Kiều
Trà Dân gian được pha chế đủ kiểu cách: hãm nước sôi; đun trà rồi ủ, ủ trà bằng ấm đất, v.v. tùy ý, miễn sao cho tiện, song luôn có bí quyết cho nghệ thuật pha chế giữ cho nước chè được trong xanh và hương vị tươi mát. Ở đây cũng không cần tới từ ngữ quá chuyên môn “trà cụ” mà chỉ cần ngôn từ bình dân, đơn giản là vật dụng pha trà mới mô tả đúng ý nghĩa, bởi người ta có thể dùng bất cứ cái gì có thể để pha trà. Ấm đất, bình tích, siêu, ca, nồi đồng, đôi lúc cả những gamen hay vật dụng gì sãn có. Thường thì Trà Dân gian không quá câu nện về “trà cụ”, song theo thói quen truyền thống từ ngàn đời, những chiếc ấm đất, gốm vẫn là dụng cụ hãm ủ chè thuần Việt nhất và bát chiết yếu dân dã dùng để uống mới đã cơn khát và mới tận hưởng hết cái hương vị, cảm nhận được cái Thần của nước chè tươi.
Tính cộng đồng cao là thuộc tính quý giá trong văn hóa Trà Dân gian Việt. Uống nước chè không còn mang ý nghĩa giải khát đơn thuần mà vượt lên trở thành yếu tố để gắn kết mọi người trong sinh hoạt, họp mặt cộng đồng. Trà Dân gian như một chất xúc tác gắn kết cộng đồng, góp phần làm thăng hoa văn hóa làng xã của cư dân nông nghiệp lúc nước. Sẽ tẻ nhạt và trống vắng biết bao nếu vắng bóng nước chè tươi trong những buổi hội hè, giao lưu vừa để trao đổi kinh nghiệm đời sống sản xuất, vừa là thời gian thư giãn sau những ngày tháng lao động mệt nhọc. Tập tục này còn được lưu giữ bảo tồn tới ngày nay ở hầu khắp các làng, thôn Việt. Điển hình là: Hội chè tươi vùng Vĩnh Phúc. Sân Đình là nơi tụ họp của cả làng và không lúc nào thiếu được nồi nước chè tươi. Cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ở các cổng phố Thăng Long, người ta vẫn còn để các cóng chè tươi hoặc lu nước mưa phục vụ miễn phí khách bộ hành. Ứng xử văn minh đầy chất nhân văn này đã được Henri Oger (Pháp) ghi lại trong tập ký họa nổi tiếng với hơn 4000 hình ảnh sinh hoạt của người Việt dưới cái tên Kỹ thuật của người An Nam.
Hình ảnh văn hóa Trà Dân gian hiển hiện rõ nét ở các quán nước làng dưới những gốc đa, gốc gạo cổ thụ và trở thành hình ảnh biểu tượng của làng xóm Việt. Nồi đất ủ chè tươi với dăm chiếc bát sành úp trên chõng tre sẵn sàng phục vụ khách. Nét văn hóa uống chè tươi bằng bát là dấu ấn quý báu còn lưu lại từ thuở sơ khai, từ nền văn hóa trà cổ xưa của người Việt cổ từ hàng ngàn năm trước.
Trân trọng và sùng bái trà là thuộc tính khác của văn hóa Trà Việt, chính vì lẽ ấy mà nước chè trở thành một trong những vật linh thiêng không thể thiếu dâng lên bàn thờ gia tiên ngày tết. Ngày giỗ, ngày cúng cơm dâng ông bà đều có lệ dâng trà. Nguồn gốc xa xưa của những tập tục này xuất phát từ quan niệm Trà là thủy tổ của vạn vật, lá trà là vật linh thiêng hóa sinh.
Trịnh Quang Dũng
Bản gốc
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét