Do có nguồn gốc từ vùng Dương Tử, nên văn hóa Phùng Nguyên đã được kế thừa những di sản của các văn hóa tại vùng này, trong đó biểu hiện rõ nhất là cổ vật bằng ngọc. Cư dân vùng Dương Tử đã tiến tới một trình độ văn minh cao độ, đã xuất hiện những nhà nước sớm và phát triển nhất trong vùng Đông Á, nên các cư dân văn hóa Phùng Nguyên không phải bộ lạc nguyên thủy, cũng như không phải có nguồn gốc từ sự phát triển tại chỗ.
Ở bài viết ngắn này chúng tôi sẽ tìm hiểu về nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên, cũng như tìm hiểu về một số vấn đề quan trọng về văn hóa Phùng Nguyên, bên cạnh đó chúng tôi cũng sẽ tổng hợp một số loại hình cổ vật đặc trưng của văn hóa Phùng Nguyên, nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn cơ bản về văn hóa gốc nguồn này của người Việt tại miền Bắc Việt Nam.
....
Văn hóa Phùng Nguyên có nguồn gốc từ văn hóa cổ tại vùng Dương Tử. Vào thời điểm hơn 4000 năm trước, cư dân các văn hóa Lương Chử, Thạch Gia Hà tại vùng Dương Tử đã di cư về phía Nam theo các nghiên cứu di truyền [3][4], có nguyên nhân từ nạn hạn hán [5] diễn ra tại vùng này.
Nghiên cứu của Viện nghiên cứu hệ gen Việt Nam, Viện Nhân chủng và tiến hóa Max Planck Đức, Phòng thí nghiệm động lực học ngôn ngữ của Đại học Lion Pháp năm 2019 đã thể hiện người Việt có nguồn gốc chủ yếu là những người di cư từ Nam Đông Á về Việt Nam cách đây từ 2.700 – 4.000 năm trước [3].
Nghiên cứu gen của Hugh McColl và các cộng sự năm 2018 [4] cũng có quan điểm tương đồng với nghiên cứu của Viện hệ gen Việt Nam hợp tác với các chuyên gia Pháp, Đức. Cả hai nghiên cứu di truyền trên đều dựa trên các bộ gen cổ và các bộ gen hiện đại.
Mô hình di cư ở Đông Nam Á thời tiền sử được xây dựng nên gồm 2 lớp từ châu Phi tới Đông Nam Á vào khoảng 30.000-60.000 năm trước và từ Đông Á di cư ngược về cách đây 2.700 – 4.000 năm.
Như vậy thông qua các tài liệu di truyền và nhân chủng học, cư dân của văn hóa Phùng Nguyên có nguồn gốc từ vùng Dương Tử, di cư về Việt Nam vào thời điểm hơn 4000 năm trước.
Do đó văn hóa này kế thừa truyền thống văn hóa tại vùng Dương Tử. Cư dân tộc Việt tại vùng Dương Tử đã có một trình độ phát triển văn minh cao độ, tại các văn hóa tại vùng Dương Tử cũng đã xuất hiện những nhà nước phát triển.
Tại vùng văn hóa Lương Chử ở hạ lưu sông Dương Tử, các nhà khảo cổ thế giới đã chứng minh là nơi có thể có nhà nước sớm nhất ở Đông Á, có xã hội phân tầng phức tạp với ít nhất 4 tầng lớp [11][12], có hệ thống thủy lợi sớm nhất thế giới với hệ thống đập, đê, mương dẫn nước, cung điện [13]. Cùng với đó là một hệ thống ký hiệu phức tạp và một số đã trở thành chữ viết dù công việc khảo cổ mới thực hiện được khoảng 10% [14].
Theo các nhà nghiên cứu, văn hóa Thạch Gia Hà có một hệ thống chính trị và một ý thức hệ để có thể tổ chức được các khu định cư quy mô lớn và ràng buộc các cộng đồng dân cư với nhau [15]. Một số học giả cho rằng Thạch Gia Hà có thể được coi là một nhà nước cổ đại do cấu trúc chính trị xã hội tương đối tiên tiến của nó [15][16]. Văn hóa Thạch Gia Hà cũng có xã hội phức tạp hơn và phát triển hơn các văn hóa cùng thời ở phía Bắc [16].
Do đó cư dân tộc Việt khi di cư về Việt Nam không phải bộ lạc nguyên thủy, mà đã đạt tới trình độ văn minh cao, có tổ chức nhà nước phát triển. Khi tộc Việt về Việt Nam, trung tâm cũng được dịch chuyển về đây, tại đây cũng đã tìm thấy những chiếc nha chương bằng ngọc được chế tác tại chỗ.
Theo các nghiên cứu di truyền học, thì văn hóa Phùng Nguyên có nguồn gốc từ văn hóa tại vùng Dương Tử, với nguồn gốc chủ yếu hơn là từ văn hóa Thạch Gia Hà tại vùng Động Đình (trung lưu Dương Tử). Các cổ vật của văn hóa Phùng Nguyên đã cho thấy sự kế thừa trực tiếp truyền thống tại vùng Dương Tử với nhiều loại hình.
1. Sự kế thừa thể hiện qua nha chương:
Nha chương là một vật biểu tượng quyền lực rất quan trọng của văn hóa Đông Á cổ, nó xuất hiện trong một vùng rộng lớn từ bắc Đông Á tới miền Bắc Việt Nam. Tại Việt Nam cũng đã tìm thấy nhiều nha chương bằng ngọc được chế tác tinh xảo, có nguồn gốc từ nha chương ngọc tại các văn hóa Đại Vấn Khẩu và Thạch Gia Hà.
Nha chương là vật biểu quyền lực quan trọng của vùng Đông Á trong giai đoạn khoảng 4000 năm trước, có địa bàn phân bố rộng từ vùng Hoa Bắc, Tứ Xuyên cho tới miền Bắc Việt Nam và Quảng Đông. Vai trò của Nha chương theo Chu Lễ thì “Nha chương dùng để điều động quân đội, chỉ huy quân đồn trú”, nha chương có chức năng giống như một chiếc quyền trượng hay lệnh bài biểu trưng cho quyền lực của vua và tướng lĩnh dùng để điều binh khiển tướng, quan điểm này được đồng thuận bởi nhiều nhà nghiên cứu.
Tiến trình phát triển từ Phùng Nguyên tới Đông Sơn:
Những người kiến tạo nên văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Đông Sơn đều cùng là người Nam Á, tuy nhiên tiến trình phát triển từ văn hóa Phùng Nguyên cho tới Đông Sơn có đôi điều cần phải bàn thảo.
Các cư dân tộc Việt đã di cư về Lĩnh Nam, Việt Nam và Đông Nam Á trong khoảng 4000 năm trước, những người di cư về Việt Nam đã kiến tạo nên văn hóa Phùng Nguyên, tuy nhiên văn hóa Phùng Nguyên chỉ có sự phát triển mạnh tới khoảng 3500 năm cách ngày nay, sau đó có sự thay đổi trong di tích và cổ vật của các văn hóa kế tiếp nó.
Tư liệu từ tài liệu khảo cổ đối chiếu với truyền thuyết:
Vùng Động Đình là trung tâm của tộc Việt trong giai đoạn văn hóa Thạch Gia Hà, vùng trung tâm này bao gồm hai tỉnh ngày nay là Hồ Bắc và Hồ Nam, đây là vùng đồng bằng rộng lớn và màu mỡ, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và văn minh. Tộc Việt khi định cư tại vùng này đã có sự phát triển rất mạnh mẽ với nhiều nền văn hóa kế tiếp nhau, kết thúc với nền văn hóa Thạch Gia Hà có sức ảnh hưởng lớn trong vùng Đông Á, tuy nhiên tới hơn 4000 năm trước, thì nạn hạn hán đã làm sụp đổ nền văn minh tại đây, khiến tộc Việt phải di cư phần lớn về vùng Lĩnh Nam, Việt Nam và Đông Nam Á lục địa [5]. Tài liệu khảo cổ chúng tôi tìm được cho thấy có thể nhà Thương đã chiếm vùng Hồ Bắc sau thời điểm hơn 4000 năm, và đưa cư dân xuống vùng này, hình thành nên văn hóa Bàn Long Thành (Panlongcheng, 1500 – 1300 BC), đây là văn hóa có đặc trưng cổ vật và văn hóa của nhà Thương, tương ứng với giai đoạn Nhị Lý Cương (Erligang, 1510 – 1460 BC). [22]
Sau đó tới thời điểm hơn 3300 năm trước, thì văn hóa Bàn Long Thành biến mất, địa bàn ảnh hưởng của nhà Thương cũng thu hẹp lại, không còn bao gồm vùng Hồ Bắc, sự thu hẹp này có thể có nguyên nhân từ cuộc chiến tranh của tộc Việt và người Hoa Hạ, khi đó trung tâm của tộc Việt có thể đã được dịch chuyển trở lại vùng Động Đình, Dương Tử.
Trong truyền thuyết Thánh Gióng cũng ghi lại câu chuyện các vua Hùng và người Việt đánh giặc Ân, giặc Ân đây là nhà Thương của người Hoa Hạ có địa bàn ở vùng bắc Đông Á, thời điểm diễn ra câu chuyện vào khoảng 3200-3300 năm trước, bối cảnh câu chuyện là khá phù hợp với sự xuất hiện và biến mất của văn hóa Bàn Long Thành tại vùng Hồ Bắc. Truyền thuyết này đã thể hiện rằng người Việt đã thắng trong trận chiến với nhà Thương, và theo tài liệu khảo cổ, họ đã giữ vững bờ cõi và chiếm lại vùng Hồ Bắc từ tay người Hoa Hạ. Các chi tiết này đã hỗ trợ cho nhau, giúp chúng ta có cái nhìn cận cảnh hơn về giai đoạn còn chưa rõ ràng này.
Dựa trên thực tế khảo cổ và đối chiếu với truyền thuyết, thì thời điểm 3500 năm trước có thể đã diễn ra cuộc di cư của tộc Việt trở lại vùng Động Đình, Dương Tử do sự xâm lấn của người Hoa Hạ, sau đó đã xảy ra chiến tranh với nhà Thương để chiếm lại vùng Hồ Bắc, cuộc chiến đã đẩy lùi người Hoa Hạ về phía Bắc, phải tới cuối nhà Thương thì họ mới chiếm được vùng Hồ Bắc, sau đó được nhà Chu phân phong cho chư hầu và hình thành nên nước Sở.
◊ Cơ sở từ dữ liệu lịch sử:
Thư tịch lịch sử cũng ghi lại một chi tiết về việc người Việt dâng chim trĩ trắng tới nhà Chu, chi tiết này được ghi lại đầu tiên trong Thượng thư đại truyện (Đại cáo 尚書大傳 – 大誥, TK 3 TCN), sau cũng được Tiền Hán Thư ghi lại. Truyện Bạch Trĩ trong Lĩnh Nam Chích Quái kể lại một cách chi tiết hơn: “Đời Chu Thành Vương (1042 – 1021 TCN), Hùng Vương sai bề tôi xưng là người Việt Thường đem bạch trĩ sang cống… “.
Câu chuyện này diễn ra trong giai đoạn khoảng 3000 năm cách ngày nay, thời điểm đó nếu trung tâm tộc Việt ở tại miền Bắc Việt Nam, thì chi tiết này lại trở nên thiếu cơ sở, do không gian địa lý giữa miền Bắc Việt Nam và kinh đô nhà Chu là rất xa xôi, và người Việt và người Hoa Hạ trong giai đoạn này không có quan hệ lệ thuộc như trong thời phong kiến, vậy nên nếu trung tâm của người Việt đang còn ở miền Bắc Việt Nam, thì chi tiết vua Hùng từ phía Nam cử sứ giả tới kinh đô nhà Chu để thông giao với Chu Thành Vương qua hành động cống chim trĩ trắng sẽ khó có được sự lý giải hợp lý. Nhưng nếu người Việt thời điểm đó có trung tâm ở vùng Dương Tử, thì câu chuyện sẽ có một cơ sở thực tế hơn, khi đó không gian sinh sống của hai tộc người là gần nhau, do đó có thể có sự va chạm, lưu truyền thông tin cũng như có thông giao trực tiếp.
◊ Văn hóa tại vùng Động Đình trong giai đoạn muộn:
Sau cuộc di cư của người Việt về miền Bắc Việt Nam vào thời điểm hơn 2700 năm trước, thì vẫn có một lượng nhất định cư dân tộc Việt sinh sống tại vùng Động Đình, văn hóa ở đây hoàn toàn tương đồng với văn hóa tại miền Bắc Việt Nam, sự tương đồng còn có phần mạnh hơn so với các vùng khác nếu so sánh cổ vật đặc trưng của miền Bắc Việt Nam (ít thấy tại các vùng khác) như cán dao găm hình người hay muỗng có đặc trưng Đông Sơn.
Văn hóa Phùng Nguyên và thời kỳ Hùng Vương:
Thời kỳ Hùng Vương, thời kỳ được ghi lại trong lịch sử Trung Hoa cũng như huyền sử Việt, theo huyền sử Hồng Bàng, thì thời kỳ các vua Hùng bắt đầu vào khoảng hơn 4000 năm trước, khi họ di cư về miền Bắc Việt Nam, tuy nhiên quốc gia Văn Lang đã hình thành ngay từ khi còn ở tại vùng Dương Tử. Tại vùng Dương Tử đã có những nghiên cứu chứng minh sự tồn tại của các nhà nước phát triển.
Tại vùng văn hóa Lương Chử ở hạ lưu sông Dương Tử, các nhà khảo cổ thế giới đã chứng minh là nơi có thể có nhà nước sớm nhất ở Đông Á, có xã hội phân tầng phức tạp với ít nhất 4 tầng lớp [11][12], có hệ thống thủy lợi sớm nhất thế giới với hệ thống đập, đê, mương dẫn nước, cung điện [13]. Cùng với đó là một hệ thống ký hiệu phức tạp và một số đã trở thành chữ viết dù công việc khảo cổ mới thực hiện được khoảng 10% [14].
Theo các nhà nghiên cứu, văn hóa Thạch Gia Hà có một hệ thống chính trị và một ý thức hệ để có thể tổ chức được các khu định cư quy mô lớn và ràng buộc các cộng đồng dân cư với nhau [15]. Một số học giả cho rằng Thạch Gia Hà có thể được coi là một nhà nước cổ đại do cấu trúc chính trị xã hội tương đối tiên tiến của nó [15][16]. Văn hóa Thạch Gia Hà cũng có xã hội phức tạp hơn và phát triển hơn các văn hóa cùng thời ở phía Bắc [16].
Thời kỳ quốc gia Văn Lang có thể bắt đầu từ khi người Việt còn ở tại vùng Dương Tử, sau đó các vua Hùng đã kế thừa nhà nước tại vùng Dương Tử khi di cư về miền Bắc Việt Nam. Tại vùng miền Bắc Việt Nam cũng đã tìm thấy nhiều nha chương được chế tác tại chỗ mà chúng tôi đã dẫn ở phần trên, đây là biểu tượng quyền lực rất quan trọng của văn hóa Đông Á cổ vào thời điểm 4000 năm trước.
Các nhà khảo cổ Việt Nam chưa khai quật đủ rộng và đủ nhiều để có thể xác định diện mạo của nhà nước tại miền Bắc Việt Nam, nên chúng ta mới chỉ có thể tạm xác định thông qua những di sản tại vùng Dương Tử, và sự kế thừa tại miền Bắc Việt Nam thông qua những chiếc nha chương. Với những bằng chứng này, chúng ta có thể tạm kết luận văn hóa Phùng Nguyên đã có một nhà nước, kế thừa từ vùng Dương Tử, tương ứng với sự hình thành của thời kỳ Hùng Vương trong lịch sử và huyền sử dân tộc.
VI. Kết luận:
Với những tư liệu hạn chế hiện có, chúng tôi đã tiến hành một bài khảo cứu ngắn về văn hóa Phùng Nguyên, nhằm đem lại những hiểu biết cơ bản nhất về nền văn hóa này tới người Việt. Văn hóa Phùng Nguyên là văn hóa gốc nguồn gần nhất của người Việt, là tiền đề phát triển tới các văn hóa kế tục tại vùng miền Bắc Việt Nam và vùng Dương Tử.
Chúng tôi hy vọng rằng trong tương lai gần, các nhà khảo cổ Việt Nam sẽ tiến hành khai quật rộng hơn các di chỉ của văn hóa Phùng Nguyên, từ đó xác định diện mạo của nhà nước cũng như trình độ văn minh của cư dân tộc Việt tại đây. Đây là một vấn đề rất quan trọng, giúp chúng ta có những hiểu biết toàn diện và chặt chẽ hơn về văn hóa cổ của người Việt và tộc Việt.
Lang Linh

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét